Thứ Năm, 8 tháng 1, 2015

Quân đội Việt Nam: Chùm ảnh "Tết của lính"

Vui xuân mới không quên nhiệm vụ-đó là điều được cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn ghi nhớ. Bởi thế, cùng với tổ chức chuẩn bị vui Tết đón xuân chu đáo, công tác canh, trực bảo đảm SSCĐ; bảo đảm an toàn đơn vị và phối hợp với các lực lượng khác giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân…cũng được cán bộ, chiến sĩ toàn quân quán triệt đầy đủ và thực hiện nghiêm túc… ẢNH: Nhờ tích cực tăng gia sản xuất, Tết này, bữa ăn của cán bộ, chiến sĩ Đoàn 84, Cục Tác chiến điện tử, sẽ thêm đủ đầy.
"Lính thợ" Phân kho 93, Tổng kho 190 (Cục Xăng dầu, Tổng cục Hậu cần) đưa hoa từ vườn về làm đẹp đơn vị trong dịp Tết Nguyên đán.
Tại nhà giàn DK1/20, rau xanh...
...gà cũng có trong "thực đơn" Tết này
Chăm chút cho sắc mai thêm vàng trong Tết Nguyên đán.
Chăm chút cho sắc mai thêm vàng trong Tết Nguyên đán.
Nỗi nhớ nhà dần nguôi ngoai, tình cảm cán-binh ngày càng thắt chặt bên nồi bánh chưng ngày Tết
Vui xuân mới không quên nhiệm vụ! Các tình huống vẫn được đặt ra và luyện tập xử lý thường xuyên. Trong ảnh: Đại đội 1, Tiểu đoàn bộ binh vật cản 93 luyện tập xử lý tình huống A2
...và sẵn sàng cơ động khi có lệnh
Bộ đội Tên lửa bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật luôn ở trạng thái tốt...
...để sẵn sàng xử lý các tình huống xảy ra, kiên quyết không để Tổ quốc bị bất ngờ vì các tình huống trên không.
Công tác phòng chống cháy nổ, bảo đảm an toàn đơn vị, kho xưởng trong dịp Tết nguyên đán Nhâm Thìn 2012 cũng được các đơn vị đặc biệt chú trọng. Trong ảnh: Nhân viên cứu hỏa của Công ty xăng dầu khu vực 1, Tổng công ty xăng dầu quân đội, kiểm tra phương tiện làm nhiệm vụ trực Tết

Đảng Cộng sản Việt Nam- Niềm tự hào của dân tộc Việt Nam






Suốt 84 năm lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ý thức được vị trí, vai trò, trọng trách của mình trước vận mệnh dân tộc, tương lai của đất nước. Vì vậy, Đảng luôn hoà cùng hơi thở và mạch sống của nhân dân, ý Đảng hợp lòng dân tạo nên sức mạnh quật khởi, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành niềm tự hào, niềm tin, lẽ sống, tiếp tục là Người lãnh đạo dân tộc Việt Nam đi đến bến bờ vinh quang!
                     
Vừa mới ra đời, Đảng ta đã nắm ngay quyền lãnh đạo độc tôn và hoà vào cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam diễn ra sôi nổi và mạnh mẽ, từng bước tạo thế, lực, thời cơ và chớp thời cơ “ngàn năm có một”, lãnh đạo cả dân tộc vùng dậy, làm nên cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - nhà nước của dân, do dân, vì dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á, xoá bỏ chế độ thực dân, nửa phong kiến, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, 9 năm sau đó, dân tộc Việt Nam có quyền tự hào với bè bạn năm châu vì đây là lần đầu tiên một dân tộc thuộc địa nhược tiểu đã đánh thắng đội quân nhà nghề Pháp hùng mạnh, làm nên mốc son Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Pháp phải ký vào Hiệp định Giơnevơ tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và các nước trên bán đảo Đông Dương, đồng thời cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa vùng lên“đem sức ta mà giải phóng cho ta”.

Dân tộc ta không chỉ tự hào về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại mà chính Đảng và Bác Hồ đã tiếp thêm sức mạnh, nguồn sống, niềm tin để cả dân tộc Việt Nam tiếp tục bước vào cuộc trường chinh chống Mỹ, cứu nước hơn hai thập niên sau đó. Tại lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “ … Đảng ta vĩ đại như biển rộng núi cao,
 Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình.
 Đảng ta là đạo đức, là văn minh,
 Là thống nhất, độc lập, là hòa bình ấm no.
 Công ơn Đảng thật là to
 Ba mươi năm lịch sử đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng”. 
Và, trong Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho dân tộc Việt Nam ghi rõ: “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đảng lãnh đạo cách mạng không phải là một đặc quyền, đặc lợi mà là sứ mệnh lịch sử, là trách nhiệm nặng nề, vẻ vang của Đảng với giai cấp, với dân tộc được nhân dân giao phó”.

Dân tộc ta tự hào Việt Nam có Bác Hồ - lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, Người đã sáng lập và rèn luyện Đảng ta và càng tự hào hơn vì dân tộc ta có một Đảng Cộng sản kiên cường, trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Vì vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam không sợ Mỹ, quyết tâm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào”, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước, thu non sông về một mối, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong Báo cáo Chính trị của BCHTW Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV viết: “Trong cuộc trường chinh để giành độc lập, tự do cho dân tộc, ở đâu và lúc nào cũng có Đảng. Đảng đi đầu trong chiến đấu. Đảng xông pha nơi khó khăn. Đảng gắn bó với nhân dân bằng những gì Đảng đã làm cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Trong giai đoạn mới, Đảng quyết làm tất cả vì sự phồn vinh của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân”.
Với sức mạnh của mình và những thắng lợi vang dội của dân tộc Việt nam vang dội khắp bốn biển năm châu đã tạo ra niềm tin vững chắc, dấn thân” đi theo tiếng gọi của Đảng, Bác Hồ làm cách mạng, giải phóng dân tộc đã đem lại một đất Việt Nam hoà bình, thống nhất, giàu mạnh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Niềm tin ấy tiếp tục được người dân kỳ vọng, gửi gắm vào Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước.
Trước muôn vàn khó khăn, thách thức trong quá trình cả nước lên xây dựng CNXH, Đảng Cộng sản Việt Nam rất chú trọng đến việc phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng an ninh, thực hiện phát triển mạnh mẽ quan hệ đối ngoại và cơ bản hoàn thành nhiệm vụ đề ra chặng đường đầu của thời kỳ quá độ, từng bước tạo tiền đề cho đất nước chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

Những thắng lợi quan trọng của chặng đường đầu tiên và thời kỳ tiếp theo của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã đưa đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, vượt qua mọi khó khăn, bao vây cấm vận, khủng hoảng tài chính, kinh tế ở khu vực và thế giới, nợ công, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh cục bộ đang diễn ra ngày càng phức tạo trên thế giới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam vẫn vững vàng đi lên trên con đường mà Đảng và Bác Hồ lựa chọn. Nước ta là điểm đến hấp dẫn của bè bạn năm châu, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới.
Điều này được khẳng định tại Đại hội XI của Đảng khẳng định: Thực tiễn phong phú và những thành tựu đạt được qua 25 năm đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn phù hợp quy luật khách quan và thực tiễn cách mạng Việt Nam. Và, tổng kết quá trình hơn 80 năm cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại”.

Trong quá trình lãnh đạo, chèo lái con thuyền cách mạng 84 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, bên cạnh thành tựu, Đảng ta cũng không tránh khởi những yếu kém, sai lầm, khuyến điểm, song, Đảng ta đã nhìn nhận, lắng nghe ý kiến phản hồi từ nhân dân, từ đó, đề ra những biện pháp sửa chữa đúng đắn, kịp thời và công khai phê bình, nhận khuyết điểm trước nhân dân, quyết tâm sửa chữa và sửa chữa có kết quả. Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) về một số vấn đề cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay và đợt sinh hoạt tự phê bình và phê bình thời gian qua là minh chứng hùng hồn về quá trình từng bước nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch là đạo đức, là văn minh như sinh thời Bác Hồ đã khẳng định.
Vì vậy, suốt chặng đường lãnh đạo 84 năm qua, Đảng ta vẫn là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, được nhân dân tin cậy, thừa nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong chính trị, người lãnh đạo chân chính duy nhất của cả dân tộc. Thành tựu mà dân tộc Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng thật lớn lao, đưa dân tộc Việt Nam vững vàng bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng ta không chỉ là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta mà còn trở thành niền tin sắt son, tự hào của dân tộc Việt Nam mỗi khi nói về Đảng. Chúng ta một lần nữa khẳng định rõ ràng rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội…”.

Không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội

Lịch sử ra đời, phát triển của xã hội loài người từ khi xuất hiện nhà nước cho thấy, bất kỳ giai cấp, đảng phái nào khi nắm quyền lãnh đạo đất nước cũng đều tổ chức ra quân đội để bảo vệ quyền lợi chính trị, kinh tế của mình và sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia. Bởi thế, quân đội là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, mang bản chất giai cấp sâu sắc, không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp, trung lập, đứng ngoài chính trị. V.I.Lênin đã khẳng định: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”(1)

Trong xã hội hiện đại, mỗi quốc gia đều có một hay đa đảng lãnh đạo và quân đội của quốc gia đó luôn gắn và phục tùng sự lãnh đạo của đảng chính trị cầm quyền. Vì thế, luận điệu đòi "phi chính trị hóa” quân đội là sự xuyên tạc, bịa đặt, hòng mưu đồ chính trị. Quan điểm quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc là phi lý và chưa bao giờ thực tiễn xác nhận. Những gì đã trải qua trên thế giới cho thấy, quân đội của bất kỳ nước nào, trong quá trình xuất hiện và trưởng thành, cũng luôn là một lực lượng chính trị quan trọng được nhà nước, giai cấp cầm quyền quan tâm lãnh đạo, xây dựng.

Lịch sử đã để lại cho chúng ta nhiều bài học sâu sắc, cảnh tỉnh cho những ai còn mơ hồ trước âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch về bản chất của quân đội và xa rời, coi nhẹ sự lãnh đạo của đảng cầm quyền đối với quân đội. Điển hình là vào những năm 80 của thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản (ĐCS) Liên Xô do mắc bẫy của chiến lược “Diễn biến hòa bình” đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của học thuyết Mác - Lê-nin, xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội và hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp trong Hồng quân. Vì thế, đã làm cho Quân đội Liên Xô lúc bấy giờ bị “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa, dẫn đến phân rã về tư tưởng và tổ chức. Mặc dù lúc đó, lực lượng quân đội mạnh với khoảng 3,9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng do bị "phi chính trị hóa”, mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu không bảo vệ Đảng Cộng sản. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho chế độ ở Liên Xô sụp đổ; và tương tự như vậy là các nước Đông Âu. Hiện nay, với kinh nghiệm đó và được bổ sung từ thực tiễn ở một số nước Bắc Phi-Trung Đông vừa qua, các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, hòng xóa bỏ những nước XHCN còn lại và các lực lượng tiến bộ trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Để thực hiện tham vọng đó, chúng xác định Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam là mục tiêu tập trung chống phá; trước mắt là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, “phi chính trị hóa” quân đội, làm rệu rã tinh thần, mất sức chiến đấu, tiến tới vô hiệu hóa lực lượng trung thành, chủ lực, nòng cốt bảo vệ Đảng Cộng sản, chế độ XHCN ở Việt Nam. Chúng lý sự rằng, quân đội là một tổ chức quân sự, công cụ bạo lực vũ trang của nhà nước, được tổ chức ra để bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì thế, quân đội trung lập về chính trị, đứng ngoài những biến động chính trị-xã hội, không chịu sự lãnh đạo của bất cứ đảng phái chính trị nào. Với lập luận đó, chúng ra sức phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lê-nin; xuyên tạc tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng Cộng sản Việt Nam; phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với QĐND Việt Nam. Chúng còn đòi xóa bỏ hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, cùng hệ thống cơ quan chính trị và cán bộ chính trị trong quân đội; xuyên tạc truyền thống, bản chất Bộ đội Cụ Hồ, đoàn kết quân-dân, hòng làm giảm lòng tin của nhân dân đối với quân đội,... Càng gần đến Ngày thành lập quân đội, sự chống phá của các thế lực thù địch lại càng gia tăng, với nhiều thủ đoạn nguy hiểm và thâm độc. Chúng tuyên truyền, phủ nhận chiến thắng của quân đội dưới sự lãnh đạo của Đảng qua những giai đoạn cách mạng; xuyên tạc các sự kiện lịch sử có quân đội tham gia; thổi phồng khuyết điểm của một vài cá nhân, đơn vị, hòng làm mất uy tín của quân đội,… Tất cả những điều đó không có gì khác ngoài mục đích là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐND Việt Nam, làm cho quân đội bị tha hóa, biến chất về chính trị, suy giảm về sức mạnh chiến đấu; Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mất chỗ dựa vững chắc.

Tiếp thu học thuyết Mác - Lê-nin về xây dựng quân đội kiểu mới, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo xây dựng QĐND Việt Nam từ các phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng; thường xuyên được giáo dục, rèn luyện qua thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, bảo đảm cho quân đội luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc; là công cụ bạo lực của Nhà nước Việt Nam XHCN, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc, vì CNXH. Ngày 22-12-1944, trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “chính trị trọng hơn quân sự”, “tuyên truyền trọng hơn tác chiến”. Đây chính là nền tảng tư tưởng, phương châm hành động để Đảng ta xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong suốt 70 năm qua.

Ra đời từ phong trào đấu tranh cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cơ sở chính trị-xã hội của Quân đội ta là đường lối của Đảng, phong trào cách mạng của nhân dân. Quân đội được xây dựng trên nền tảng vũ trang toàn dân và làm nòng cốt cho toàn dân tiến hành đấu tranh vũ trang, gắn bó máu thịt với nhân dân, thực sự là quân đội cách mạng của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Bản chất của quân đội là sự thống nhất hữu cơ giữa tính đảng, tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc, được biểu hiện sinh động ở lý tưởng chiến đấu, cơ sở chính trị-xã hội, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy và chức năng, nhiệm vụ. Lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta là vì độc lập dân tộc và CNXH, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là lý tưởng cao đẹp không chỉ mang tính cách mạng, khoa học, mà còn thấm đượm tính nhân văn sâu sắc; không chỉ phản ánh sự vận động, phát triển đúng quy luật của xã hội Việt Nam đương đại, mà còn phản ánh khát vọng thiêng liêng tự giải phóng, giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, vươn lên làm chủ của các thế hệ người Việt Nam xuyên suốt hành trình lịch sử. Đồng thời, thể hiện tình cảm sâu nặng, trách nhiệm chính trị, đạo đức cao cả của quân đội đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.

Cần khẳng định, chỉ dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta mới có đường hướng phát triển đúng đắn, thực sự là đội quân có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc, nhân dân và luôn có ý chí quyết tâm, sức mạnh chiến đấu cao trước mọi kẻ thù xâm lược. Đảng thực hiện sự lãnh đạo quân đội thông qua hệ thống tổ chức Đảng, tổ chức chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng ở đơn vị cơ sở. Nhà nước thống nhất quản lý quân đội theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Các tổ chức Đảng trong quân đội hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình. Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội ta đã hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

Lịch sử 70 năm xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam cho thấy, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định để quân đội hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, luôn đồng hành cùng dân tộc vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đánh bại đế quốc, thực dân, đưa non sông thu về một mối. Hiện nay, quân đội đang là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc XHCN, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Trên chặng đường đó, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, chúng ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức xuất phát từ sự chống phá của các thế lực thù địch, mà trọng điểm là đòi “phi chính trị hóa” LLVT nhân dân, nhất là QĐND.

Để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn đó của các thế lực thù địch, phải tiếp tục tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch, nhân tố quyết định bảo đảm cho Quân đội ta luôn trưởng thành và chiến thắng. Phải tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, làm tròn sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp xây dựng quân đội, tăng cường quốc phòng trong thời kỳ mới.

Thực tiễn lịch sử xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam khẳng định vai trò lãnh đạo “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” của Đảng đối với quân đội. Đó là điều không thể phủ nhận. Các thế lực thù địch dù có mưu mô, xảo quyệt đến đâu cũng không thể bác bỏ được.

Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014

NHỊP SỐNG TRẺ Noi gương anh hùng Lý Tự Trọng

Tuổi 17, Lý Tự Trọng đã ghi tên mình vào sử sách với câu nói bất hủ: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng chứ không thể có con đường nào khác”. Lời hiệu triệu ấy đến nay vẫn đặt lên vai người trẻ bao suy tư khi nghĩ về Tổ quốc.
Không chỉ tự hào, đó còn là sự khâm phục và nhiều điều mà thế hệ trẻ hôm nay có thể học được khi nói về anh hùng trẻ tuổi Lý Tự Trọng - một trong những đoàn viên thanh niên cộng sản đầu tiên được Bác Hồ huấn luyện.
Anh Nguyễn Võ Quốc Cao (Nhà Bè) cho rằng bản lĩnh chính trị và một tinh thần thép là điều mà anh thấy nổi bật nhất ở con người Lý Tự Trọng. “Trước khi lên máy chém anh vẫn lạc quan hát vang Quốc tế ca, điều không phải thanh niên nào cũng làm được” - Quốc Cao ngưỡng mộ.
Theo phó hiệu trưởng Trường Đoàn Lý Tự Trọng (TP.HCM) Hà Tài Sáu, lời khẳng định đanh thép “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng chứ không thể có con đường nào khác” của “ông nhỏ” Lý Tự Trọng trước tòa đại hình Pháp 83 năm trước đến nay vẫn được nhiều thế hệ thanh niên VN xem như tuyên ngôn về lập trường sống và chiến đấu của thế hệ trẻ.
“Dù vẫn còn hạn chế nhưng thanh niên hôm nay đã tự tin hơn khi hội nhập với quốc tế, đã biết chia sẻ với cộng đồng, quan tâm đến vận mệnh đất nước, sống có hoài bão và lý tưởng” - anh Sáu nhìn nhận.
Phần nhiều các phát biểu đều chia sẻ rằng hướng người trẻ đến những giá trị tốt đẹp có vai trò rất lớn của tổ chức Đoàn.
Bạn Đỗ Hữu Duy Anh (Q.4) nghĩ rằng để có thể làm những điều lớn hơn, mỗi bạn trẻ hôm nay phải trang bị cho mình một nền tảng vững chắc.
“Đó chính là biết và giữ gìn những giá trị truyền thống của dân tộc, học những điều nhỏ nhất từ anh em quanh mình để tự tin hội nhập quốc tế” - Duy Anh nói.
Nguyên hiệu trưởng Trường Đoàn Lý Tự Trọng Hoàng Đôn Nhật Tân mong muốn làm sao nhiều điển hình tiêu biểu của thanh niên phải đến được với đông đảo giới trẻ.
“Thanh niên luôn có nhu cầu ngưỡng mộ những anh hùng, người tài giỏi nên làm sao để họ tiếp cận được với nhiều tấm gương sáng như thế, họ sẽ được truyền lửa và xây dựng được cho mình lý tưởng sống cao đẹp” - ông Tân chia sẻ.
Anh Quốc Cao nhấn mạnh phải quyết liệt đổi mới cách tuyên truyền của Đoàn, sao cho trực quan sinh động và hấp dẫn người trẻ hơn. “Công tác Đoàn phải đi vào chiều sâu, đừng quá quan tâm số lượng đông đảo bạn trẻ đến với hoạt động, mà cái chính là sau mỗi hoạt động ấy có bao nhiêu bạn trẻ chuyển biến nhận thức và hành động” - anh Cao đề xuất.
Đúc kết tọa đàm, trưởng Ban tuyên giáo Thành đoàn TP.HCM Nguyễn Thị Hương cho rằng mỗi bạn trẻ TP hiểu rõ trách nhiệm thôi chưa đủ mà còn phải biến thành hành động cụ thể.
“Từ hình tượng anh hùng Lý Tự Trọng, từ sự trân trọng dành cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ông ra đi, mong rằng mỗi bạn trẻ TP noi gương bằng cách luôn giữ cho mình suy nghĩ phải tham gia, góp phần vào phát triển kinh tế, xây dựng TP, đất nước phát triển” - chị Hương nói.

“CHỈ THỊ THÀNH LẬP ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN” SOI SÁNG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TÍNH NHÂN DÂN CỦA QUÂN ĐỘI TA

CHỈ THỊ THÀNH LẬP
ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN
SOI SÁNG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
TÍNH NHÂN DÂN CỦA QUÂN ĐỘI TA

                                                 
                                                          Thượng tá, Ths Nguyễn Việt Hường*[1]
                                                                                 
        Theo chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quân đội cách mạng với tư cách là một tổ chức quân sự, một lực lượng vũ trang của Đảng là: “tuyên truyền”, “chính trị trọng hơn quân sự”[2]. Điều đó có nghĩa là quân đội không thuần tuý thực hiện nhiệm vụ quân sự, mà là một tổ chức vũ trang thực hiện những nhiệm vụ theo yêu cầu của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam. Người giải thích rõ thêm nội dung nhiệm vụ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là “đội tuyên truyền”, “một đội quân đầu tiên”. Nhiệm vụ của “đội tuyên truyền”, “đội quân đầu tiên” này phải “dìu dắt…, giúp đỡ…, “huấn luyện”[3] các cán bộ vũ trang ở các địa phương để phát triển lên, làm nòng cốt cho cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện của nhân dân ta; đồng thời còn phải “tuyên truyền”, “vận động” quần chúng nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng.
Do điều kiện lịch sử cụ thể của dân tộc quy định, nên khác với hầu hết quân đội các nước xã hội chủ nghĩa, đại đa số quân nhân trong quân đội ta, trước kia cũng như hiện nay đều là con em của nhân dân lao động, chủ yếu là nông dân, sinh ra và lớn lên ở nông thôn. Đó thực sự là một “quân đội nhân dân, do nhân dân đẻ ra”[4] và  “…nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”[5]. Vì vậy, quá trình trưởng thành của mỗi quân nhân có những đặc điểm riêng, song đều có cái chung là sự lãnh đạo, giáo dục của Đảng, sự tôi luyện trong tổ chức quân sự và hoạt động quân sự, sự nuôi dưỡng, giáo dục và rèn luyện của nhân dân. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Phải dựa vào dân", "bám lấy dân", làm sao cho được "dân tin, dân mến, dân yêu"; bộ đội ta thực sự sống trong lòng dân, gắn bó mật thiết với nhân dân như cá với nước. Có thể nói, bản chất và truyền thống của quân đội ta vừa kế tục trung thành, vừa góp phần bồi đắp, phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước.
Suốt 70 năm qua, quân đội ta đã luôn luôn tỏ rõ: “Trung với nước, hiếu với dân”, “Trung với Đảng, hiếu với dân”[6]. Bác Hồ và Đảng ta đã rèn luyện quân đội trở thành quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng. Quân đội ta kế thừa và phát triển truyền thống bất khuất hơn bốn nghìn năm của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước chân chính và tinh thần quốc tế vô sản, nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, quyết chiến thắng mọi kẻ thù hung bạo, có tiềm lực lớn. Đảng đã xây dựng thành một Quân đội nhân dân chân chính, một quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu, thể hiện đậm nét đặc sắc quân đội mang tính nhân dân. Tính nhân dân của quân đội ta thể hiện rất phong phú, sinh động trong chỉ thị và trong thực tiễn xây dựng chiến đấu, trưởng thành.
Trước hết, tính nhân dân của quân đội ta thể hiện tập trung bởi quân đội là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, vấn đề tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân là phẩm chất quan trọng hàng đầu của quân đội ta. Mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân,  Trung với Đảng là phấn đấu, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng đó. Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng cộng sản Việt Nam, được biểu hiện tập trung nhất ở lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là lý tưởng mang tính cách mạng và khoa học sâu sắc, thấm đượm bản chất nhân văn cao đẹp, phản ánh đúng đắn quy luật phát triển của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại, đáp ứng khát vọng thiêng liêng tự giải phóng, giành quyền độc lập, tự do, hạnh phúc và vươn lên làm chủ của các thế hệ người Việt Nam trong suốt hành trình lịch sử dân tộc.
Lý tưởng chiến đấu của quân đội ta kết tinh ý Đảng, lòng dân, đồng thời biểu hiện tình cảm sâu nặng và trách nhiệm chính trị - đạo đức của quân đội đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; định hướng cho thái độ và hành động của cán bộ, chiến sĩ quân đội, cổ vũ tính tích cực xã hội của mỗi quân nhân để chủ động, tự giác rèn luyện, phấn đấu thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ. Lý tưởng chiến đấu đó là yếu tố cốt lõi nhất, quyết định nhất trong bản chất của quân đội ta, tạo nên sự đoàn kết, gắn bó máu thịt giữa quân đội với nhân dân, xây đắp nên tính nhân dân của quân đội ta bằng biểu tượng "Bộ đội Cụ Hồ".
Thứ hai, tính nhân dân của quân đội có cơ sở xuất phát của quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, một quân đội của dân, do dân, vì dân. Hiếu với dân cũng là phẩm chất quan trọng hàng đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Quân với dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau, nhân dân là "nền tảng", là "cha mẹ" của bộ đội”[7]. Trong quan hệ "cha mẹ - con cháu", chữ hiếu bao giờ cũng là giá trị cao nhất, cơ bản nhất, xuyên suốt của đạo con cháu. Tội lớn nhất của con cháu đối với cha mẹ là tội bất hiếu. Phẩm chất hiếu với dân của quân đội ta không chỉ do quân đội được sinh ra và lớn lên từ nhân dân, trong lòng nhân dân, mà còn được quy định bởi sự thống nhất về mục tiêu, lý tưởng của nhân dân và quân đội. Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, quân đội không có mục đích tự thân nào khác. Bao trùm nhất của lòng hiếu với dân của quân đội ta là: "vì nhân dân chiến đấu, vì nhân dân phục vụ", vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó vừa là mục tiêu chiến đấu, vừa là phương châm hành động của tất cả cán bộ, chiến sĩ quân đội ta.
      Phẩm chất cao đẹp hiếu với dân của quân đội ta nói lên tính chất nhân dân của quân đội cách mạng, khác hẳn về chất so với quân đội làm công cụ cho giai cấp bóc lột, quân đội đánh thuê của chủ nghĩa đế quốc đứng ngoài, thậm chí đối lập với nhân dân. Chỉ có quân đội cách mạng mới có thể có đầy đủ nguồn sức mạnh từ nhân dân, nguồn sức mạnh vô tận, không bao giờ cạn kiệt, bảo đảm sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta, thể hiện ưu thế hơn hẳn so với quân đội của chủ nghĩa đế quốc. Chính vì vậy, tăng cường mối quan hệ quân - dân luôn luôn là yêu cầu cơ bản của việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong tất cả các giai đoạn cách mạng; đồng thời đó còn là đòi hỏi của việc không ngừng củng cố, bồi đắp phẩm chất hiếu với dân của quân đội. Hiếu với dân không chỉ biểu hiện ở những thành tích huy hoàng của quân đội trong chiến đấu chống kẻ thù của đất nước, của nhân dân, mà còn biểu hiện ở tình cảm "thương yêu dân", ở hành động giúp đỡ dân, bảo vệ dân, tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với dân, không đụng đến "cái kim, sợi chỉ" của nhân dân... được nhân dân yêu mến, tin tưởng, "đi dân nhớ, ở dân thương".
Thứ ba, tính nhân dân của quân đội ta còn được thể hiện sâu sắc trong quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Với chức năng là đội quân chiến đấu, quân đội ta thực sự làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc, hỗ trợ tích cực cho đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang của quần chúng nhân dân, chiến đấu ngoan cường, dũng cảm để giải phóng và bảo vệ đất nước, xả thân hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản và hạnh phúc của nhân dân. Đồng thời sức mạnh chiến đấu của quân đội ta dựa chắc trên cơ sở sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân. Nhân dân luôn hết lòng cưu mang, đùm bọc, che chở cán bộ, chiến sĩ quân đội; cung cấp sức người, sức của, nuôi dưỡng tinh thần quyết chiến, quyết thắng, cùng bộ đội đánh giặc, giải phóng quê hương, bảo vệ  biên giới, biển - đảo chủ quyền thiêng liêng Tổ quốc. Quân đội ta tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng - an ninh, xung kích đến vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, gian khổ để xây đựng các khu kinh tế - quốc phòng, các công trình có ý nghĩa chiến lược của đất nước.
     Trong công tác dân vận quân đội ta luôn gắn bó mật thiết, đồng cam cộng khổ với nhân dân, thực sự là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế-xã hội của địa phương; tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, giữ vững ổn định chính trị của đất nước. Chính trong hoạt động dân vận, bám nắm địa bàn, bộ đội cùng nhân dân kịp thời phát hiện và đấu tranh làm thất bại nhiều âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Khi có những vấn đề phức tạp nảy sinh, bộ đội phối hợp chặt chẽ với cáp ủy, chính quyền, đoàn thể và nhân dân xử lý đúng đắn, có hiệu quả tình huống, ổn định tình hình. Thông qua công tác dân vận và thực hiện nghiêm túc 12 điều kỷ luật dân vận, những phẩm chất tốt đẹp của "Bộ đội Cụ Hồ" tiếp tục được bồi dưỡng, rèn luyện và kiểm nghiệm nghiêm ngặt, được tỏa sáng trong lòng nhân dân. Quân đội ta cũng là lực lượng xung kích trong cứu hộ, cứu nạn, giúp dân phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn; nhiều đồng chí quên mình xả thân trong hiểm nguy để cứu tính mạng và bảo vệ tài sản của nhân dân.  
   Trải qua bảy thập kỷ, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình xây dựng, chiến đấu và công tác, thành phần xuất thân của đa số quân nhân, từ buổi đầu thành lập cho đến bây giờ, chủ yếu là nông dân, nhưng quân đội ta luôn luôn giữ vững và không ngừng phát triển bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân của mình, thực sự là quân đội của dân, do dân, vì dân. Trong suốt chặng đường xây dựng và trưởng thành, quân đội ta luôn xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành của Đảng, Tổ quốc và nhân dân, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó.
      Đối với nước ta hiện nay, các thế lực thù địch vẫn ráo riết đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, ra sức lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Chúng tập trung phủ nhận nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm và sự lãnh đạo của Đảng; mưu toan "phi chính trị hóa" quân đội, chia rẽ Đảng và quân đội với nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bên cạnh đó, những tiêu cực trong xã hội, như nạn tham nhũng, tệ quan liêu, sự suy thoái về chính trị- tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và những tệ nạn xã hội khác, có tác động tiêu cực không nhỏ đến nhận thức, tình cảm và lòng tin của nhân dân. Vì vậy, việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, củng cố quan hệ máu thịt giữa quân đội với nhân dân, bồi đắp tính nhân dân của quân đội là một nội dung có ý nghĩa chiến lược, mang tính cấp thiết hiện nay./.
     
 




[1]* Chủ nhiệm Bộ môn, Khoa Triết học Mác - Lênin    
[2] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H. 2009, tr 507
[3] Sđ d, tr. 507
[4] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H. 2009, tr 392-393
[5]Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H. 2009, tr 392-393
[6] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, H.2000, tr.350

[7] Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, H. 2009, tr 392-393